Publisher Theme
I’m a gamer, always have been.

Mỹ can thiệp vào Việt Nam – US involvement in vietnam war – P2

148

Về việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam – US involvement in vietnam war , chính sách của Hoa Kỳ bắt đầu từ hậu quả của các hiệp định Geneve ngày 20 tháng 7 năm 1954. Hoa Kỳ đã không ký kết các hiệp định đó

Vào mùa thu năm 1954, Hoa Kỳ bắt đầu cuộc hành trình đơn độc của mình tại Việt Nam và Đông Nam Á. Đó là một chuyến đi đầy mâu thuẫn giữa cái lớn và cái nhỏ, cái cũ và cái mới. Cuộc gặp gỡ này phản ánh cả những ý định tốt đẹp lẫn sự ngây thơ thiếu hiểu biết, những hành động đầy trách nhiệm cẩn trọng xen lẫn những sai lầm do hành động bốc đồng. Tuy nhiên, nhìn chung, câu chuyện về mối quan hệ hợp tác Mỹ – Việt cho thấy, người Việt Nam và người Mỹ đã hoạch định chính sách ở tầm vóc lớn, chứ không phải trên cơ sở cục bộ. Nó cũng cho thấy cả hai [đất nước] chúng ta cùng tiến bước một cách mù mờ trong điều mà William James từng gọi là “những đám mây mù của sự mù quáng tổ tiên”.

Một mặt, trong suốt một thập niên, chính sách của Mỹ gắn liền với các mục tiêu và hoạt động của mình ở Việt Nam qua bức tranh phức tạp về hòa bình và an ninh thế giới, hoặc ít nhất là với kế hoạch dễ dàng cho nền độc lập và hiện đại hóa quốc gia. Chúng tôi không hề đóng khung Việt Nam hay đối xử với Việt Nam một cách tùy tiện, tách biệt khỏi những vấn đề và sự kiện lớn của thời đại.

Mặt khác, những người hoạch định và những người thực thi chính sách của Mỹ đôi khi đã đưa ra quyết định và tiến hành các hoạt động liên quan đến Việt Nam trong sự thiếu hiểu biết hoặc không khoan dung đối với cách suy nghĩ và hành động của người Việt. Chúng ta thường xuyên khăng khăng áp dụng phân tích và khuôn mẫu của người Mỹ, dù thường với ý định tốt đẹp nhất. Ít ai trong chúng ta hiểu được lịch sử lâu dài của Việt Nam hay thấu hiểu nền văn hóa nhạy cảm của Việt Nam. Sự hợp tác đã là một thử thách đối với cả hai phía.

Vậy chúng ta đã làm gì? Thực tế là chúng ta đã cố gắng truyền cảm hứng và thúc đẩy sự thay đổi từ mô thức đời sống hàng thế kỷ sang một lối sống hiện đại. Hãy gọi đó là một cuộc cách mạng xã hội nếu muốn, bởi vì chính xác nó là như thế. Chính phủ Hoa Kỳ trong suốt mười một năm đã kiên quyết – dù không phải lúc nào cũng thành công hay rõ ràng – đứng về phía cách mạng ở Việt Nam, nhưng không có chủ nghĩa cộng sản. Chúng ta đã bảo trợ và ủng hộ công cuộc cải cách dân tộc chủ nghĩa. Chủ đề giản dị trong chính sách ban đầu của Hoa Kỳ tại Việt Nam là chủ nghĩa dân tộc và cải cách.

Nguồn gốc của chính sách này cho thấy vở kịch về việc người Mỹ chúng ta đã hiểu và đã hiểu sai như thế nào về cách mạng và chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam từ năm 1954. Chúng ta đã mắc những sai lầm nghiêm trọng và đau đớn. Nhiều khi chúng ta cũng đúng. Những yếu tố lịch sử của ngẫu nhiên và lựa chọn đã đặt ra trước chúng ta vào năm 1954, cũng như ngày nay. Đối với chúng ta, vào năm 1954 cũng như hiện nay, thách thức thật sự là phải biết được câu hỏi cơ bản. Như Archibald MacLeish từng viết: “Chúng ta đã học được câu trả lời, tất cả các câu trả lời. Nhưng chính câu hỏi thì chúng ta lại không biết”. Vậy đâu là cốt lõi của vấn đề Việt Nam cách đây mười một năm?

Liệu người Việt Nam có thể xây dựng được một cuộc cách mạng dân tộc chủ nghĩa gắn với cải cách thật sự nhưng không có cộng sản hay không? Liệu họ có thể hoà nhập với thế kỷ 20? Liệu họ có duy trì được sức sống và năng lượng đã từng giúp họ độc lập trước Trung Quốc và làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia và nền văn hoá đặc thù trong ít nhất 1.000 năm? Hay họ sẽ rơi vào hỗn loạn hoặc cộng sản?

Còn đối với chúng ta ở Washington: Việt Nam có tầm quan trọng gì ở Đông Nam Á? Lợi ích của Hoa Kỳ ở đó là gì? Chúng ta phải bỏ ra bao nhiêu để đạt được mục tiêu của mình? Và liệu chúng có thể đạt được không?

Nghịch lý Hiệp định Geneve

Chính sách của Hoa Kỳ bắt đầu từ hậu quả của các hiệp định Geneve ngày 20 tháng 7 năm 1954. Hoa Kỳ đã không ký kết các hiệp định đó. Tuy nhiên, chính sách của Mỹ đã phải vận hành trong khuôn khổ của các hiệp định này, mặc dù Hoa Kỳ chưa bao giờ bị ràng buộc về mặt pháp lý bởi ba hiệp định đình chỉ chiến sự. Chính phủ Hoa Kỳ đã nêu rõ lập trường của mình ngay từ năm 1954. Chúng ta sẽ không sử dụng vũ lực và sẽ kiềm chế mọi đe doạ dùng vũ lực có thể phá vỡ các hiệp định đó. Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng thông báo với thế giới rằng, chúng ta sẽ coi bất kỳ sự tái diễn xâm lược nào ở Việt Nam là một mối quan ngại nghiêm trọng và sẽ hành động tương ứng, vì bất kỳ hành động xâm lược nào ở Đông Dương hay ở Việt Nam đều đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình và an ninh của Hoa Kỳ cũng như của toàn thế giới.

Chúng ta đã tuyên bố ý định của mình ngay từ năm 1954, chứ không phải mười năm sau đó. Hoa Kỳ cũng đã tìm cách thống nhất Việt Nam thông qua tổng tuyển cử tự do, dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc, để bảo đảm rằng các cuộc bầu cử được tiến hành công bằng. Chúng ta đã tìm cách đưa Liên Hiệp Quốc tham gia vào vấn đề Việt Nam ngay từ năm 1954, chứ không phải chỉ vào năm 1964 hay 1965. Những nỗ lực của chúng ta nhằm hướng tới một giải pháp dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc đã bị tất cả các bên từ chối.

Khuôn khổ Genève ít nhất đã tạo điều kiện cho một điều – chủ quyền của Nam Việt Nam. Pháp, Anh, Hoa Kỳ và nhiều chính phủ khác đã coi Nam Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền trước khi các hiệp định Genève được ký kết. Kể từ đó, không có tranh cãi pháp lý hay ngoại giao nào về chủ quyền ấy. Ba chính phủ đã cùng nhau làm việc trong hội nghị Genève để bảo đảm sự tồn tại và phát triển của điều mà Sir Anthony Eden gọi là “vùng được giữ lại”, tức là Nam Việt Nam. Vấn đề không chỉ là tính hợp pháp. Câu hỏi đặt ra sau Hội nghị Genève là: Có thể làm gì về mặt xã hội và kinh tế để duy trì sự tồn tại của quốc gia này?

Thật không may, các chính phủ tham gia Genève đã không bảo đảm thi hành các hiệp định. Việc không làm như vậy là một trong những sai lầm lớn mà Hoa Kỳ mắc phải ở châu Á. Các hiệp định này chưa bao giờ có thể được cưỡng chế bằng hành động quốc tế. Tuy vậy, chúng đã có ảnh hưởng sâu sắc đến Việt Nam và chính sách của Hoa Kỳ. Dĩ nhiên, các hiệp định đã tạm thời chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Đây là một phần của một thoả thuận bí mật được ký kết giữa các nhà đàm phán Hà Nội tại Genève và người Pháp. Điều này đã bị các đại diện của Nam Việt Nam kịch liệt phản đối.

Trong những ngày cuối cùng của hội nghị căng thẳng đó, nhiều người đã bị sốc. Thỏa thuận thực chất là một sự mặc cả. Có một cuộc ngừng bắn và Việt Nam bị chia cắt; nhưng các cuộc bầu cử dự kiến được tổ chức trong một hoặc hai năm chắc chắn sẽ bảo đảm một “chiến thắng” bầu cử của cộng sản trên toàn Việt Nam với cái giá rẻ nhất có thể. Hội nghị Genève đã tạo ra nghịch lý của cái gọi là “vùng được giữ lại”: Một mặt, phải trợ cấp để ngăn cộng sản thôn tính, nhưng mặt khác thì lại chuẩn bị để loại bỏ nó.

Hiệp định về Việt Nam đặt ra nhiều điều cấm về quân sự bên cạnh việc ngừng bắn. Nó thiết lập khu phi quân sự dọc theo vĩ tuyến 17. Nó được cho là sẽ ngăn chặn mọi loại trang bị và nhân sự quân sự mới được đưa vào cả hai miền Việt Nam. Nó cấm lập căn cứ quân sự và tái khởi động chiến sự từ phía Nam chống lại miền Bắc, hay từ phía Bắc chống lại miền Nam. Nó cấm cả hai bên tiến hành bất kỳ chính sách gây hấn nào chống lại “khu vực” kia.

Hết phần 2 : Mỹ can thiệp vào Việt NamUS involvement in vietnam war

Xem lại từ đầu : Mỹ can thiệp vào Việt Nam – US involvement in vietnam war – P1

Xem lại phần trước : Mỹ can thiệp vào Việt Nam – US involvement in vietnam war – P1

Xem tiếp : Mỹ can thiệp vào Việt Nam – US involvement in vietnam war – P3

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.

lorain duval fucked on the pool table.check my reference free porn tube
swinger show young couples blowjob orgy cosplay.anal sex