Trận Điện Biên Phủ – Battle of Dien Bien Phu 1954 – P2
Trận Điện Biên Phủ – Battle of Dien Bien Phu 1954 được bắt đầu bằng chiến dịch Caster đã không vận các đơn vị xuống thiết lập căn cứ Điện Biên Phủ
Năm 1962, khi ông giám đốc tủ sách “Những trận đánh lớn trong lịch sử” – “Great Battles Series”, nhà sử học nổi tiếng và nhà văn quân đội Mỹ Hanson W. Baldwin, đề nghị tôi viết quyển sách này. Tôi nhận ra rằng khó mà viết về trận Điện Biên Phủ 1954 – Battle of Dien Bien Phu 1954 trong cuộc chiến Đông Dương khi không có nhiều tư liệu lưu trữ về cuộc chiến này. Trong khi yêu cầu các nhà chức trách Pháp cho phép tôi được tham khảo những tài liệu chính thống, tôi không quên nói với họ rằng chuyện kể lại chính xác một cách khoa học những gì đã diễn ra ở Điện Biên Phủ sẽ không là sự ca ngợi các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Pháp ở Viễn Đông
Trong khi chờ đợi sự chấp thuận của chính quyền Pháp để tiếp cận hồ sơ, tài liệu, … Tôi đã tiếp xúc với những cựu chiến binh Pháp còn sống . Do người Pháp đều nắm nhiều vị trí chỉ huy quan trọng nên họ sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc kể lại câu chuyện. Tôi cũng hiểu rõ và cẩn thận trong những câu chuyện của họ kể đôi khi hơi mâu thuẫn ngay cả giữa những đơn vị với nhau. Chẳng hạn lính dù thì cho rằng họ là đơn vị gánh vác cả trận đánh trong khi sĩ quan của đơn vị Lê Dương cho rằng họ là đơn vị phòng thủ chính . Thêm nữa là có cả sự mâu thuẫn tranh cãi giữa Tổng Chỉ Huy Quân Đội Pháp ở Đông Dương là tướng Navarre và cấp dưới ông ta là chỉ huy Bắc Việt – thiếu tướng Rene Cogny và họ cũng từng tranh cãi nhau tại tòa án ở Paris
Tôi cũng ngạc nhiên khi thấy không ai lắng nghe quan điểm của những người lính Lê Dương, Bắc Phi và Việt Nam, những người không phải là người Pháp nhưng chiếm đến 70% lực lượng đồn trú. Sau 1 năm sau khi giành độc lập từ cuộc chiến đẫm máu kéo dài còn lâu hơn cuộc chiến Đông Dương, chính phủ nước Cộng Hòa Algerie đã cho phép tôi phỏng vấn những binh sĩ từng tham chiến trận Điện Biên Phủ 1954 – Battle of Dien Bien Phu 1954 nhưng nay lại đang trong lực lượng Algerie chống Pháp
Năm 1963, tôi đã nhận được giấp phép từ Bộ Trưởng Vũ Trang Pháp là ông Monsieur Pierre Messmer cho phép tiếp cận các hồ sơ, tài liệu quân đội. Năm 1964 – 1965, nhờ một sự chấp thuận từ đại học Howard, tôi cũng đã hoàn thành được công việc nghiên cứu tài liệu. . Cần nói ngay rằng hầu hết những tài liệu có ở Điện Biên Phủ – nhật ký hành quân, văn bản những bức điện trao đổi giữa các đơn vị, v v – đã bị thiêu huỷ trước khi tập đoàn cứ điểm thất thủ, hoặc đã rơi vào tay quân cộng sản. Thêm nữa, duy chỉ có quân đội nhân dân Việt Nam – quân đội Bắc Việt mà đến năm 1954 người ta còn gọi là quân Việt Minh – là có tiến hành một cách quy củ việc nghe những người còn sống sót báo cáo lại ngay sau trận đánh. Nói đúng ra thì chỉ có tướng Võ Nguyên Giáp là có đủ thẩm quyền để viết cuốn sách này. Nhưng do bận nhiều công việc, cho tới nay ông chỉ công bố được vài bài nghiên cứu về đề tài này.
Tài liệu lưu trữ Pháp cũng thiếu nhiều phần nhưng ghi ghép khá chi tiết về kế hoạch giải cứu Điện Biên Phủ trước ngày 24 tháng 3 năm 1954 là giai đoạn căn cứ Điện Biên Phủ bị cắt đứt liên lạc với bên ngoài. Cuối cùng cơ quan hồ sơ lưu trữ của hải quân và không quân đã cung cấp cho tôi một số lượng lớn những tài liệu rất quý về mặt không quân trong trận đánh này
CHƯƠNG I : NATASHA
“Castor” có lẽ là chiến dịch không vận đầu tiên và cũng là cuối cùng mà máy bay dẫn đầu mang theo 3 viên tướng tướng , Đó là tướng không quân bốn sao Pierre Bodet, phó tướng của tổng tư lệnh Đông Dương, trung tướng không quân Jean Dechaux, tư lệnh binh đoàn không quân chiến thuật bắc (G.A.T.A.C. – Bắc), và thiếu tướng Jean Gilles, tư lệnh quân nhảy dù Đông Dương.
Chiếc máy chở các tướng này là chiếc C-47 của Mỹ cất cách từ sân bay Bạch Mai lúc 5h sáng ngày 20 tháng 11 năm 1953 . Máy bay này có nhiệm vụ đánh giá điều kiện thời tiết trên vùng thung lũng Điện Biên Phủ có thuận lợi hay không và có nên hay không thả một toán quân dù tinh nhuệ đi trước trước khi các nhóm nhảy dù khác được thả xuống
Lúc này, ở Bắc Việt, Pháp có ba phi đoàn vận tải . Đó là đoàn 1/64 ” Hearn“, đoàn 2/64 ” Anjou” và đoàn 2/63 ” Senegal“, những ngày qua liên tục được huy động vào những hoạt động yểm hộ chiến đấu chống đại đoàn Việt Minh 320 tại vùng tây nam châu thổ sông Hồng. Ba đoàn này trên lý thuyết có khoảng 70 máy bay C-47 có thể hoạt động để phục vụ chiến dịch Caster. Chỉ huy lực lượng vận tải ở Bắc Việt là đại tá Jean-Louis Nicot . Ông huy động 65 máy bay C-47 cho chiến dịch Caster. Ông thông báo :
“Việc nhảy dù sẽ được thực hiện ở Điện Biên Phủ. Các máy bay sẽ chia làm 2 nhóm. Nhóm đầu có 32 máy bay dưới quyền thiếu tá tá Fourcaut, chia thành 4 trung đội và cất cánh từ sân bay Bạch Mai. Nhóm thứ 2 có 32 máy bay dưới quyền thiếu tá Martinet, cũng chia thành 4 trung đội và cất cánh từ sân bay Gia Lâm
Việc cất cánh giữa 2 nhóm sẽ cách nhau 3 phút. Mỗi trung đội cất cánh cách nhau 1 phút. Mỗi phân đội 3 chiếc máy bay sẽ cất cánh cách nhau 10 giây”
Vào lúc 7 giờ sáng, việc truyền đạt mệnh lệnh kết thúc và đến 7 giờ 15, các phi hành đoàn lên máy bay, các khoang máy bay đã đầy quân dù và trang thiết bị. Trong khi chờ đợi lệnh xuất phát, hầu như mọi người trong các phi hành đoàn đều chăm chú quan sát mây. Về nguyên tắc thì động cơ phải được khởi động vào lúc 7 giờ 20 nhưng mãi gần đến 8 giờ thì lệnh xuất phát mới tới ban tham mưu hàng không vận tải ở Bạch Mai. Các máy radio lập tức bắt đầu tí tách, 70 động cơ gầm rú trong khi những quả pháo hiệu đỏ từ những trạm kiểm soát trên hai sân bay Bạch Mai và Gia Lâm bay vọt lên trời. Những chiếc máy bay nặng nề tiếp theo nhau lăn bánh trên đường băng và cất cánh.
Vấn đề làm những người chỉ huy quân sự bận tâm nhất, đó là việc không thể nào giữ được tuyệt đối bí mật. Chính vì lý do đó mà Cogny chỉ thông báo nhiệm vụ cho tướng Dechaux vào ngày 12 tháng Mười Một, ngha ìà chưa đến bảy ngày trước khi bắt đầu cuộc hành binh không vận mà ông ta phải chỉ huy. Lệnh rất vắn tắt và chỉ nói đến chuyện chiếm đóng thung lũng Điện Biên Phủ.
Lệnh dự kiến: dựng lên ở Điện Biên Phủ “một tổ chức phòng ngự có nhiệm vụ bảo vệ sân bay, loại trừ mọi tổ chức muốn bố trí một vành đai các trung tâm đề kháng xung quanh sân bay” và khả năng có thể sử dụng năm tiểu đoàn chiếm đóng, trong đó hai tiểu đoàn hoạt động ở vùng lân cận. Cũng mệnh lệnh ấy đã được truyền đạt cho tướng Gilles.
Gilles đã được cho biết là có quân Cộng Sản hoạt động trong vùng thung lũng cho nên một cuộc nhảy dù xuống Điện Biên Phủ có thể vấp phải sự chống cự nào đó, chí ít cũng ìà lúc ban đầu. Vì vậy đối với ông ta lý tưởng nhất là thả xuống thung lũng cùng lúc 3 tiểu đoàn để có đủ lực lượng bao vây quân địch và nếu có thể thì bắt sống viên trung đoàn trưởng của họ. Tiếc thay, số lượng hạn chế về máy bay và phi hành đoàn buộc phải thực hiện cuộc hành binh làm hai đợt: sau khi thả dù xong đợt thứ nhất, các máy bay lại quay trở lại Hà Nội nhận những binh sĩ và trang thiết bị thả đợt thứ hai. Do đó Giìles quyết định trong đợt thứ nhất thả hai tiểu đoàn thiện chiến nhất mà ông ta có ở Đông Dương: tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 – Colonial Parachute Battalion (6 B.P.C.) của tiểu đoàn trưởng Marcel Bigeard và tiểu đoàn hai thuộc trung đoàn Dù Khinh Binh số một – 1st Regiment of Parachute Light Infantry (2/11 R.C.P.) của tiểu đoàn trưởng Jean Brechignac.
Xem lại từ đầu : Trận Điện Biên Phủ – Battle of Dien Bien Phu 1954 – P1
Xem lại phần 1 : Trận Điện Biên Phủ – Battle of Dien Bien Phu 1954 – P1
Xem tiếp : Trận Điện Biên Phủ – Battle of Dien Bien Phu 1954 – P3
Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.