Các công thần của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đều có kết cục bi thảm
Từ Hội Thề Lũng Nhai, Lê Lợi đã chiến thắng quân Minh và mở ra thời nhà Lê. Tuy nhiên, các công thần của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Trãi, Lê Sát, … đều có kết cục bi thảm
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dưới quyền chỉ huy của Lê Lợi đã giúp non sông ta sạch bóng quân thù, đưa Đại Việt trở thành quốc gia độc lập có tự chủ sau 20 năm làm nô lệ của giặc Minh. Ngoài một số công thần bị chết trận được truy phong như Đinh Lễ, Lê Thạch, Lê Lai… đa số các công thần đều còn sống cho đến ngày thắng lợi cuối cùng. Tuy nhiên không phải số phận của tất cả họ đều được bình an và hưởng vinh hoa phú quý sau những tháng ngày gian lao sinh tử đánh đuổi kẻ thù. Có một số công thần đã có những kết cục hết sức bi thảm, có người còn bị tru di, có người thì bị chính đồng đội của mình sát hại, có người bị chính Vua của mình vì nghi kỵ công thần nên giết chết. Có thể nói các công thần của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đều có kết cục bi thảm đã gây bất ngờ đối với những người nghiên cứu lịch sử và cả hậu thế mai sau.
1/ Nguyễn Trãi: Nguyễn Trãi có cha là Nguyễn Phi Khanh – Hàn Lâm Học Sĩ nhà Hồ và có ông ngoại là Trần Nguyên Đán – dòng dõi Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải.
Theo nhà sử học Trần Trọng Kim viết : “Nguyễn Trãi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn vào năm 1420. Khi Bình Định Vương về đánh ở Lỗi Giang, thì có ông Nguyễn Trãi, vào yết kiến, dâng bài sách bình Ngô, vua xem lấy làm hay, dùng ông ấy làm tham mưu”.
Sau khi khởi nghĩa thắng lợi, Lê Lợi sai Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo để tuyên cáo cho toàn quốc. Nền tự chủ của người Việt được khôi phục sau hai thập kỷ thuộc Minh. Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, mở ra cơ nghiệp nhà Hậu Lê kéo dài gần 400 năm. sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: Đại hội các tướng và các quan văn võ để định công, ban thưởng, xét công cao thấp mà định thứ bậc. Lấy Thừa chỉ Nguyễn Trãi làm Quan phục hầu; Tư đồ Trần Nguyên Hãn làm Tả tướng quốc; Khu mật đại sứ Phạm Văn Xảo làm Thái bảo; đều được ban quốc tính.
Nhưng sau khi Trần Nguyên Hãn và Phạm van Xảo bị nghi ngờ Mưu phản thì Nguyễn Trãi cũng bị nghi ngờ là phe cánh của hai ông này, ông đã bị Lê Thái Tổ bắt giam. Tuy rằng sau đó được thả ra nhưng bị tước bỏ quốc tính. Đến Khi Lê Thái Tông lên ngôi ông mới được tin dùng nhưng vì sự đấu đá trong nội bộ triều Lê dưới thời Lê Thái Tông rất phức tạp nên ông xin từ quan về Chí Linh Côn sơn dưỡng già.
Lê Thái Tông sau khi trừ bỏ họa quyền thần đã cho mời Nguyễn Trãi một lần nửa ra giúp sức và ông lại ra. Lần này Lê Thái Tông rất trọng dụng ông và cho ông giử chức: Nhập nội hành khiển tả ty Gián Nghị Đại Phu và giử chức Hàn Lâm Viện Đại Học Sĩ.
Tháng 9 năm 1942, vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, Nguyễn Trãi đón vua đi thuyền vào chơi ở chùa Côn Sơn. Khi về Đông Kinh thì người thiếp của Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ đi theo hầu. Khi đến Lệ Chi Viên thì vua băng hay và gây ra vụ án Lệ Chi Viên . Nguyễn Trãi bị kết án Tru Di Tam Tộc. Có thể nói trong số các công thần bị hại thì Nguyễn Trãi là bi kịch lớn nhất. Đến đời Lê Thánh Tông ông mới được giải khỏi nỗi oan khuất đầy bi thãm.
2/ Trần Nguyên Hãn: ông là cháu nội đại Tư đồ Trần Nguyên Đán thuộc dòng dõi của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải. Do vậy, ông và Nguyễn Trãi là anh em họ với nhau.
Sách Đại việt thông sử chép rằng: Khi nhà Hồ mất, quân Minh xâm lược, trăm họ lầm than, Trần Nguyên Hãn nuôi chí cứu đời giúp dân nên ông cùng Nguyễn Trãi vào Thanh Hóa đầu quân cho Lê Lợi và lập nhiều chiến công.
Ngày 22 tháng 11 năm 1427, quân Minh dưới quyền của chủ soái Vương Thông cùng Lê Lợi lập Hội Thề Đông Quan, khi đó quân Minh và phía Lê Lợi sẽ cùng đình chiến và quân Minh sẽ rút về nước. Theo danh sách hội thề này thì Trần Nguyên Hãn đứng thứ hai sau Lê Lợi
Sau khi kết thúc khởi nghĩa Lam Sơn ông được Lê Lợi phong làm Tả tướng quốc Bình chương quân quốc trọng sự gần như là quan đứng đầu triều đình. Nhưng Trần Nguyên Hãn đả nhận thấy số phận của mình ở triều Lê rất bấp bênh. Lê Lợi đã cho người giết chết Trần cảo là vua bù nhìn do Lê Lợi dựng lên và bắt những người họ Trần phải đổi họ với lý do là phạm húy, đồng thời Lê Lợi còn cho sứ giả sang nói với nhà Minh là con cháu họ Trần đã chết hết và đề nghị vua nhà Minh phong Lê Lợi làm An Nam Quốc Vương. Chính vì thế Số phận của Trần Nguyên Hãn là rất đáng báo động: ông là con cháu dòng dõi Chiêu Minh vương Trần Quang Khải trực thuộc hoàng tộc nhà Trần, nếu ông còn ở Triều đình thì Lê Lợi sẽ rất khó ăn nói với Thiên hạ.
Theo sách Đại Việt thông sử: Năm 1429, Trần Nguyên Hãn xin về hưu. Từ trước đó, Nguyên Hãn có nói riêng với người thân cận: “Nhà vua có tướng như Việt vương Câu Tiễn, cho nên, ta không thể yên hưởng vui sướng được“. Ý ông cho rằng Lê Lợi trước sau cũng hại chết công thần
Sau khi ông về, Lê Lợi cho người điều tra gia đình ông và khi nhận thấy ông tậu nhiều thuyền, xây dinh thự Lê Lợi đã tin rằng ông định làm phản và ra lệnh bắt về. Thuyền đi đến bến xã Đông Sơn, Trần Nguyên Hãn phẫn uất khấn trời rằng :
“…Tôi với Hoàng thượng cùng mưu cứu nước, cứu dân, nay sự nghiệp lớn đã thành, Hoàng thượng nghe lời dèm mà hại tôi. Hoàng thiên biết xin soi xét cho”
Nói xong bỗng trời nổi gió to làm lật thuyền, bốn mươi hai lực sĩ xá nhân và Trần Nguyên Hãn đều chết đuối cả, chỉ có hai gia đồng thoát chết. Lê Lợi nghe tin, xuống chiếu tịch thu tất cả vợ con, ruộng đất của cải của ông.
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư và Đại Việt thông sử: vua Thái Tổ tuổi già, lắm bệnh, sợ ngày sau chúa nhỏ (thái tử Nguyên Long mới lên 8) cầm quyền, các đại thần như Phạm Văn Xảo và Trần Nguyên Hãn “sẽ có chí khác” nên giết ông để trừ hậu hoạn
3/ Phạm Văn Xảo: ông là một trong những người theo Lê Lợi trong những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa. Cùng với Trịnh Khả lập được nhiều chiến công trong đó đáng kể nhất là chiến công cùng Trịnh Khả chặn đứng 5 vạn đại quân Mộc Thạnh chi viện cho Liễu Thăng và đánh bại đạo quân này ở Lãnh Câu, Đan Xá tiêu diệt 1 vạn quân giặc, bắt sống 1000 quân, đuổi Mộc Thạnh chạy trối chết về Vân Nam.
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, luận công ban thưởng cho công thần. Phạm Văn Xảo được phong làm thái bảo, ban họ Lê của vua ông được phong là Huyện Thượng hầu và được gia phong Thái Bảo
Tháng 5 năm 1429, vua sai khắc biển ghi tên công thần, ông được phong làm Huyện thượng hầu, tên xếp thứ ba sau Phạm Vấn và Lê Sát, thăng làm Thái úy. Phạm Văn Xảo trở thành đại thần được người đương thời trọng vọng
Năm 1430-1431, ông bị tố cáo là ngầm mưu phản, Lê Thái Tổ sai người bắt giết ông và tịch thu gia sản
4./ Trịnh Khả: Lê Quý Đôn chép rằng Trịnh Khả là một trong 19 người năm 1416, tham gia Hội thề Lũng Nhai, ước hẹn cùng nhau chung sức đánh quân Minh cứu nước. Ông cũng là một trong những người mà Lê Lợi xem là thân tín nhất
Trong giai đoạn đầu của khởi nghĩa, Lê Lợi đã tin tưởng ông và phái ông mang thư nhờ vua Ai Lao giúp binh lương, võ khí, … Ông cũng lập nhiều chiến công điển hình nhất là cùng Phạm văn Xảo chặn đứng đại quân Mộc Thạnh, chống giử ải Lê Hoa kềm chặt đại và đánh bại 5 vạn đại quân Mộc Thạnh.
Năm 1433, ông được thăng làm Bảo chính công thần gia Kim tử vinh lộc đại phu Lương Giang trấn, quán quân tướng quân, nhập nội thiếu bảo tham tri quân sự các vệ thuộc đạo Hải Tây và chức thái giám coi các việc trong ngoài, trụ quốc, ban kim ngân phù
Mùa thu, tháng 7 ngày 26 năm Tân Mùi niên hiệu Thái Hòa 19 (năm 1451), Thái hậu Nguyễn Thị Anh sai bắt giết ông cùng con là Trịnh Bá Quát do có người gièm pha rằng cha con Trịnh Khả kết đảng. Mọi người đều cho rằng ông bị oan
5./Lê Sát: là một trong những người đầu tiên tham gia Hội Thề Lũng Nhai. Ông được Đại Việt thông sử mô tả là trí dũng hơn người và là một trong những người lập nhiều chiến công nhất và góp phần lập nên nhà Hậu Lê. Chiến công lớn nhất của ông là chém đầu Liễu Thăng ở ải Chi lăng vào ngày 20 tháng 9 âm lịch năm 1427
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế tức Lê Thái Tổ, phong thưởng cho các công thần và được phong Huyện thượng hầu, công trạng ông đứng hàng thứ hai chỉ sau Phạm Vấn
Năm 1435, thái tử lên ngôi Hoàng đế (Lê Thái Tông), phong ông làm thủ tướng. Lê Sát hăng hái giúp vua sửa sang chính sự, năng can gián nhưng do xuất thân võ tướng, tính cách nóng nảy, lại sử dụng hình luật rất nghiêm khắc tàn bạo . Ông cũng không nắm bắt được ý vua và có nhiều lời có phần xúc phạm
Năm 1437, Lê Sát bị bãi chức, sau bắt tự tử tại nhà, vợ con gia sản đều bị tịch thu. Con gái ông l àNguyên phi Lê Ngọc Dao bị phế làm dân thường. Những người từng nói đở cho cho ông ở triều đình như Tham đốc Lê Văn Linh, Điện tiền đô kiểm điểm Lê Ê, .. đều bị giáng chức
6/ Lưu Nhân Chú: là một võ tướng cao cấp dưới trướng lê Lợi. Là một trong 18 người tham dự hội thề Lũng Nhai quyết tâm đánh đuổi giặc Minh. Ông lập nhiều đại công trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đánh bại quân Minh ở trận Khả Lưu, đánh úp thành Tây Đô. Cùng với Lê Sát đánh bại quân của Liễu Thăng đem đến thắng lợi cuối cùng. Ông được giử chức Đại Tư Mã, sau được thăng Nhập nội kiểm hiệu Bình chương quân quốc Trọng Sự và được Lê Lợi đích thân có bài chế văn khen tặng công lao phong làm Tể Tướng và tể phụ đứng đầu quan võ, làm đại Nguyên soái.
Khi khắc biển công thần theo Lịch triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú thì tên ông đứng hàng thứ năm sau Lê Ngân tước Á Thượng Hầu. Nhưng ông không được hưởng phú quý dài lâu. Bi Kịch của ông là không bị vua nghi ngờ mà bị chính người đòng đội từng kề vai sát cánh gian khổ chiến đấu cùng mình sát hại: Tư đồ Lê Sát vì ghen tỵ với ông đã dùng mưu đánh thuốc độc làm bằng lông chim trả hại chết Lưu Nhân Chú. Sau khi Lê Sát bị giết chết ông mới được truy phong tước Thái Phó Vinh Quốc Công.
7/ Lê Ngân: cũng tương tự như Lê Sát ông tham gia khởi nghia những ngày đầu tiên gian khổ và cũng lập nhiều đại công: vây thành Đông Quan, hạ thành Nghệ An, cùng Lê Sát mai phục Liễu Thăng ở Nghệ An đánh bại quan thù. Sau khi thắng lợi hoàn toàn ông được phong nhập nội Tư Mã và được khắc biển công thần. Tên của ông đứng hàng thứ tư. Sau đó gia phong làm Đại Tư Khấu, tổng quản hành quân Bắc Đạo, cùng với Lê Sát làm phụ chính triều đình.
Sau khi Lê Sát bị vua Lê Thái Tông giết chết ông trở thành ngươi nắm quyền cao nhất triều vua Lê Thái Tông. Lúc này vua Thái Tông đã lớn, tự mình cầm quyền và Lê Ngân lúc này là người cuối cùng trong số 5 công thần có công cao nhất còn lại từ khởi nghĩa Lam Sơn và Lê Ngân bị hại bởi một nguyên nhân hết sức phi lý: Ông bị tố cáo là muốn con gái lúc này là Huệ Phi được vua Thái Tông yêu mến nên thờ phật Quan Âm trong nhà. Ông Bị Vua Thái Tông định tội là dùng phép phù thủy và tà thuật, bị tịch thu tài sản và bắt tự tử tại nhà. Com gái ông bị giáng làm Tu dung. Cuối cùng đến thời Lê Thánh Tông ông mới được minh oan và truy tặng tước Thái Phó.
Như vậy số phận của những công thần lập nhiều chiến công nhất trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đều rất bi thãm. Trong số 5 tướng đứng đầu lập nhiều công lao nhất Khởi Nghĩa Lam Sơn được Lê Lợi tặng biển công thần suy tôn công trạng thì chỉ duy nhất Phạm Vấn người đứng đầu là được chết trong an nhàn, công lao đầy đủ. Bốn người còn lại đều có kết cục đầy nước mắt. Người thì bị vu cho mưu phản, người thì bị đồng đội giết, người thì bị cho là chuyên quyền, người thì bị vu là dùng tà thuật.
Thời xưa thì sau khi Việt Vương Câu Tiễn lên làm vua thì giết Phạm Chủng, vua Lưu Bang khi lên ngôi đã giết Hàn Tín. Chu Nguyên Chương đã giết Từ Đạt, Thang Hòa, … Do đó mới có câu “Điểu Tận Cung Tàng” nghĩa là “đã hết chim để săn thì cung tên trở thành vô dụng”. Thiên hạ đã định thì công thần không còn giá trị. Những vị vua trên e ngại những công thần, tướng tài, … đang nắm binh quyền trong tay sẽ là nguy cơ cho triều đình nên đều tìm cách sát hại để trừ hậu hoạn
Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.