Publisher Theme
I’m a gamer, always have been.

Biệt đội Chồn Hoang Wild Weasel và tên lửa chống Radar AGM-45 Shrike Missile – P2

0 92

Không quân Mỹ đã thành lập biệt đội Chồn Hoang là các máy bay được trang bị hệ thống điện tử và tên lửa Shrike Wild Weasels and anti radar AGM-45 Shrike Missile in Vietnam war

Việc biến cải các máy bay F-4C thành vai trò Wild Weasel bắt đầu từ năm 1966 nhưng gặp nhiều trở ngại cho đến năm 1969 mới hoàn thành. Đơn vị F-4C Wild Weasel đầu tiên là đơn vị thuộc Phi Đội Đặc Nhiệm số 67 ở căn cứ Kedena thuộc Okinawa – 67th TFS vào tháng 9 năm 1972 đã gửi 6 chiếc F-4C Wild Weasel đến căn cứ Korat ở Thái Lan. Các máy bay này đã tiến hành 460 phi xuất ở chung quanh Hà Nội và đã chứng tỏ được sự hiệu quả cao trong chiến dịch Linebacker II mà không gặp bất kỳ tổn thất nào

Trong chiến dịch Linebacker II, các máy bay Wild Weasel đã tiến hành yểm trợ trong các phi vụ oanh kích các mục tiêu mà hơn 50% số đó tập trung trong bán kính 40km quanh khu vực Hà Nội. Đây là khu vực được trang bị các hệ thống phòng không dày đặc nhất thế giới lúc bấy giờ. Các máy bay Wild Weasel đã làm giảm rõ rệt các tổn thất do tên lửa phòng không của Bắc Việt mà không bị bất kỳ tổn thất nào. Trong chiến dịch Linebacker II, Bắc Việt đã phóng lên hơn 4.000 quả tên lửa SAM-2 và bắn rơi 49 máy bay Mỹ, tỉ lệ hơn 80 quả đạn / máy bay

Tên lửa SAM-2 – S-75 Dvina

Tên lửa SAM-2, phía Liên Xô gọi là S-75 Dvina nhưng được biết đến nhiều hơn dưới cái tên SA-2 Guideline do NATO định danh. 

Trong thời gian đầu khi các máy bay Mỹ oanh kích miền Bắc Việt Nam, họ đã gặp tổn thất nặng trước các dàn tên lửa phòng không SAM-2 do Liên Xô cung cấp. Các tên lửa SAM-2 có thể bắn hạ mục tiêu lên đến độ cao 20km. Để chống lại các tên lửa SAM-2, các máy bay Mỹ phải hạ thấp độ cao nhưng lại phải đối mặt với hệ thống pháo phòng không AAA. Do đó, không quân Mỹ đã tiến hành chương trình Chồn Hoang và chương trình này đã chứng tỏ sự hiệu quả khi chống lại hệ thống radar của các dàn tên lửa SAM-2 và tên gọi Chồn Hoang cũng được đặt cho các máy bay được biên chế làm nhiệm vụ này

Từ khi chấm dứt cuộc ném bom Sấm Rền vào năm 1968, phía Bắc Việt đã tăng cường mạnh mẽ lực lượng không quân cũng như hệ thống phòng không với các trang thiết bị ngày càng hiện đại. Vào năm 1972, Bắc Việt đã có trên 200 dàn tên lửa phòng không SAM-2 và được phân bổ trải dài đến tận miền Nam Việt Nam

Một trận địa tên lửa điển hình bao gồm 3 bệ phóng với 3 tên lửa lắp sẵn, 3 quả tên lửa hay còn gọi là đạn dự phòng, xe tải chở đạn, 1 dàn radar P-18 hay còn được gọi là radar Spoon Rest dò tìm mục tiêu và radar Fan Song dẫn tên lửa đến mục tiêu. Tên lửa SAM-2 sử dụng đạn V-750 có chiều dài 10.6m – 11.2m tùy phiên bản . Radar P-18 có nhiệm vụ lùng sục và phát hiện mục tiêu, sau đó truyền dữ liệu về vị trí mục tiêu cho hệ thống. Radar Fan Song có nhiệm vụ nhận dữ liệu mục tiêu, phân tích xử lý và dẫn đường cho tên lửa đến mục tiêu. Radar Fan Song có thể nhận dữ liệu từ 4 mục tiêu trước khi phóng tên lửa và có thể dẫn đường cho 3 tên lửa cùng tấn công 1 mục tiêu

Nhiệm vụ của Radar là phát các chùm tín hiệu lên bầu trời và khi dội trúng mục tiêu là các máy bay, tín hiệu sẽ phản xạ lại hệ thống và khi đó mục tiêu sẽ bị nhận diện. Tuy nhiên, việc phản hồi lại tín hiệu cũng đồng nghĩa sẽ dẫn đến vị trí của radar và khi đó radar lại trở thành mục tiêu của cuộc tấn công khác. Việc theo dõi và phát hiện các tín hiệu radar sẽ cần đến các thiết bị điện tử chuyên biệt và chúng được lắp trên các máy bay Wild Weasel

Đối phó radar của tên lửa SAM-2

Không quân Mỹ bắt đầu triển khai chương trình Chồn Hoang Wild Weasel từ tháng 10 năm 1965 và tháng 11 thì các thiết bị bắt đầu được thử nghiệm. Các sĩ quan Chiến Tranh Điện Tử – Electronic Warfare Officers (EWOs) bắt đầu được học cách vận hành các thiết bị dò tìm tín hiệu radar của đối phương. Các radar của đối phương không chỉ phải được hoạt động mà còn phải trong tình trạng hoạt động đủ lâu để bám mục tiêu và nhận tín hiệu phản hồi về. Việc thử nghiệm được tiến hành trên các hệ thống radar của Mỹ có tính năng giống radar Fan Song của Liên Xô

Các máy bay Wild Weasel đã chứng tỏ rằng có thể phát hiện tín hiệu của radar từ ngoài cự ly 45km là tầm bắn của tên lửa SAM-2. Tuy nhiên, các máy bay này cần phải tiến lại gần như để xác định rõ vị trí của radar. Một khi tín hiệu radar được phát hiện, máy quét tín hiệu sẽ được khởi động và báo cho máy bay hướng của tín hiệu, máy bay càng lại gần trạm radar, khoảng cách càng gần thì tín hiệu sẽ càng mạnh . Khi tiến đến gần trạm radar, máy quét sẽ quét và phát hiện vị trí của trạm radar khi đó sĩ quan Điện Tử có thể dùng mắt thường để thấy rõ mục tiêu. Ngày 18 tháng 11 năm 1965, cuộc thử nghiệm chấm dứt và các phi hành đoàn được đưa đến Đông Nam Á để thử nghiệm thực tế trên chiến trường. Họ sẽ có 3 tháng để tiến hành thử nghiệm, đánh giá và đưa gia giải pháp tốt nhất để chống lại tên lửa SAM-2

Ngày 24 tháng 11 năm 1965, chiếc máy bay F-100 được lắp các thiết bị điện tử và được gọi là F-100 Wild Weasel đầu tiên đã đến sân bay Korat ở Thái Lan cùng các trang thiết bị điện tử và nhân viên kỹ thuật. Họ sẽ tiến hành các nhiệm vụ thử nghiệm trên bầu trời Bắc Việt . Cuối tháng 12 năm 1965, đại úy Donovan và Lamb đã phá hủy trận địa tên lửa SAM và từ đó trở thành một chương trình mới trong Không Quân Mỹ. Không Quân Mỹ đã đặt tên cho chương trình này là chương trình Iron Hand . Nhiệm vụ của chương trình Iron bao gồm 1 máy bay F-100 Super Sabre và 3-4 máy bay F-105. Nhiệm vụ của chương trình Iron Hand là áp chế và phá hủy các trận địa tên lửa SAM

Nhiệm vụ đánh giá chương trình Wild Weasel kết thúc vào tháng 1 năm 1966 và mở ra một chiến dịch mới. Không Quân Mỹ nhận xét rằng các máy bay F-100F Super Sabre quá lạc hậu để tác chiến hiệu quả nên bắt đầu cải biên các máy bay F-105 để làm nhiệm vụ này. Tháng 5 năm 1966, 5 máy bay F-105 Wild Weasel đầu tiên đã đến sân bay Korat ở Thái Lan. Đến tháng 6 , có thêm 6 chiếc máy bay F-105 Wild Weasel được đưa dến

Trong khi Không Quân tiếp tục cải tiến các máy bay thì Hải Quân Mỹ cũng phát triển vũ khí để diệt tên lửa SAM. Các tên lửa AGM-45 Shrike là phiên bản cải tiến từ tên lửa không đối không Sparrow. Các tên lửa này sẽ hướng đến mục tiêu là các dàn radar . Các tên lửa này là các tên lửa đầu tiên của dòng tên lửa chống bức xạ và chúng đã chứng tỏ hiệu quả hơn hẳn các quả rocket thông thường. Các quả tên lửa này mang đầu nổ 75Kg và đủ sức phá hủy dàn radar Fan Song. Để có thể hướng tên lửa vào mục tiêu là các dàn radar, các phi công phải lái máy bay áp sát đủ gần để hệ thống dò tìm mục tiêu của tên lửa hoạt động. Các phiên bản đầu tiên của tên lửa Shrike buộc các máy bay phải bay trong tầm bắn của tên lửa SAM-2 

Xem lại : Biệt đội Chồn Hoang Wild Weaseltên lửa chống Radar ShrikeWild Weasel and AGM-45 Shrike Missile in Vietnam war – P1

Xem tiếp : Biệt đội Chồn Hoang Wild Weaseltên lửa chống Radar ShrikeWild Weasel and AGM-45 Shrike Missile in Vietnam war – P3

chương trình Wild Weasel, project Wild Weasel, tên lửa Shrike, tên lửa chống radar, tên lửa chống radar Shrike, tên lửa SAM-2, Wild Weasel in Vietnam war

Leave A Reply

Your email address will not be published.