Căn cứ Cửa Việt – NSA Combat base – Camp Kistler
Căn cứ Cửa Việt trong chiến tranh Việt Nam còn được gọi là Cua Viet Combat base – Cua Viet Naval Support Activity Base – Camp Kistler in Vietnam war và là căn cứ tiếp tế quan trọng ở tỉnh Quảng Trị – Vùng I Chiến Thuật
Căn cứ Cửa Việt , cũng như nhiều địa danh khác, hầu như bị ‘chìm’ trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam, nếu không có một Trận đánh rất đặc biệt vào năm 1973 , vài giờ trước khi Hiệp ước Đình chiến có hiệu lực (một trận khác cũng ..diễn ra tương tự tại Sa Huỳnh). Một sự kiện rất ít người biết đến là tại Cửa Việt có một Căn cứ của HQVNCH..
Vài đặc điểm địa lý
Cửa Việt là tên một xã (thôn) nhỏ có cửa biển , thuộc Quận Gio Linh, Tỉnh Quảng Trị. Vị trí của Căn cứ Cửa Việt được ghi là nằm tại cửa sông Cửa Việt cách bờ biển 2km, cách Thị xã Quảng Trị 16 km về phía Bắc và cách lằn ranh Khu Phi Quân Sự (DMZ) giữa hai miền Nam-Bắc VN 10 km về phía Nam. Sông Cửa Việt là hợp lưu của hai sông Thạch Hãn và Miếu Giang, nơi họp nhau cách bờ biển khoảng 10 km.
Sông Thạch Hãn bắt nguồn từ Đông Trường Sơn, chảy qua Thung lũng Ba Lòng, rồi qua Thị xã Quảng Trị, sau đó đổi về hướng Tây-Bắc qua quận lỵ Triệu Phong, tiếp tục khoảng 10 km để gặp Sông Miếu Giang.
Sông Miếu Giang, cũng từ Đông Trường Sơn, chảy qua Cam Lộ rồi qua thị trấn Đông Hà, tiếp tục khoảng 3 km để gặp sông Thạch Hãn…
Theo báo chí Mỹ thì ‘Cua Viet Base’ được Sư đoàn 3 TQLC Mỹ thiết lập năm 1966 (?) như một Căn cứ yểm trợ và tiếp vận cho các đơn vị tác chiến của họ hoạt động dọc Khu DMZ và nhất là Căn cứ Đông Hà , sau khi cửa sông Cửa Việt đổ ra biển Đông được nạo vét (một tàu nạo vét , hút cát được đặt thường xuyên tại đây) để các chiến đỉnh vận chuyển loại LCU có thể lưu thông .
Cuối năm 1966, do nhu cầu tiếp vận HQHK đã đưa một toán 35 nhân viên đến Đông Hà (NSA) lập một căn cứ tiếp nhận các LCU và FYU chuyển vận các vật liệu xây dựng, đạn và xăng dầu từ Đà Nẵng chạy 90 miles dọc ven biển về phía Bắc , vào cảng Cửa Việt, rồi theo thủy lộ..đến Đông Hà . Việc vận chuyển ven biển rất khó khăn với các chiến đỉnh nhỏ vì sóng gió nên HQHK quyết định lập NSA Cửa Việt
Tháng 2 năm 1967, 12th TQLC đã đặt tại Cửa Việt 6 chiếc LVTH6 (Landing Vehicle Tracked Personnel) = Thủy xa đổ bộ, chở được 30 quân, chạy xích và lội nước.
Tháng 3 năm 1967 NSA Cửa Việt chính thức được xây dựng
Ngày 18 tháng 3-1967 một cầu tàu cho Hải vận hạm LST được xây dựng tại Căn cứ : các tiếp liệu phẩm có thể chuyển từ Căn cứ lên các LCU và LCM rồi theo thủy lộ đến Đông Hà. Sau đó một Kho nhiên liệu , dầu khí (POL) được xây dựng và do một ĐĐ TQLC Mỹ bảo vệ..Hải quân Hoa Kỳ (chỉ huy cả TQLC) gọi Căn cứ này là NSA-Cua Viêt (Naval Support Activity), một ‘chi nhánh = Detachment của NSA DaNang. Đây là một Căn cứ Tiếp vận, không có các đơn vị tác chiến vì gần khu DMZ). Điều kiện thời tiết, mưa gió rất khắc nghiệt trong khu Cửa Việt. Cửa sông có đá và cồn cát di động gây trở ngại cho các tàu bè di chuyển từ Đà Nẵng đến (90 hải lý). Cửa biển phải được nạo vét thường xuyên..

Ngày 9 tháng 5-1967, Chiến hạm Ironwood (WLB-297) đã từ Hawaii đến VN giúp thiết đặt các phao đánh dấu hải hành tại các cửa biển, sau công tác tại cửa sông Cửu Long, đã ra Cửa Việt để đặt hệ thống đèn hiệu .. WLB cũng bị pháo kích thường xuyên nhưng may mắn không trúng đạn.
(Tác giả L. Schreadley trong ‘From the Rivers to the Sea’ ghi lại sinh hoạt tại Cửa Việt như sau : Cua Viet, chỉ cách DMZ 5km về phía Nam, trong tầm đại bác của CSBV luôn luôn bị pháo kích. Đời sống tại đây khá cực khổ. Binh sĩ phải sống trong những chòi kiểu bun-ke chìm dưới đồi cát. Trong những tháng Gió mùa, khí hậu tại Cửa Viêt rất tệ, lạnh, mưa, trời xám liên tục hầu như không ngớt..khi trời ngưng mưa, những hạt cát, mịn nhỏ bị gió thổi bay lên phủ bên ngoài chòi , chui vào mọi khe ngách.. vào khe cửa và cả vào.. đồ ăn nếu bày sẵn ! Bên ngoài nơi cửa sông sóng liên tục . Swift boats bị sóng đánh lật là thường..: 11 tháng 6-1967 PCF 76 lật úp, chìm và bị vỡ thành nhiều mảnh; 30 tháng 11 PCF 14 cũng lật khi đang tiếp cứu một ghe dân VN.. PCF 55 đến trợ giúp bị sóng cuốn quay vòng 85 độ.. May mà không có thiệt hại về nhân mạng cả Mỹ (người cứu) lẫn Việt (người được cứu ).
Bão tố (Bessie, Dora..) cũng gây thiệt hại không kém : trong khoảng thời gian cuối 1969-70.. ngày 2 tháng 9 , bão vào, đánh chìm một MSB (tàu vớt mìn), đưa nhiều LCPL lên bãi cát, thổi bay mái nhà trong căn cứ, gây mất điện, rào kẽm gai phòng thủ cuốn đi..các LCM tứ tán..trong số 11 phao đánh dấu đường vào cảng.. 9 chiếc bị cuốn đi . Hoạt động gần như tê liệt ..
Sau cơn bão, trẻ em gia đình binh sĩ nhặt được trên bãi biển đủ loại vũ khí, chất nổ . Các chiến đỉnh của HQHK neo tại Cửa Việt ngoài vấn đề bị pháo kích còn phải đối phó với đặc công BV.. trú ẩn trong một làng dân ngay bên kia, bờ Bắc sông Cửa Việt . Toán quân nhân HQ , gồm 61 người đồn trú tại Căn cứ, đã tạm lắp một cầu tàu bằng thép và chiếc LST USS Carolyn County (LST-515) đã neo tại đây tháng 3-1967 và tiếp sau đó là chiếc USS Sodomish County (LST-1126)..Khu vực xuống hàng tạm này sau đó được thay bằng sàn bê tông vào cuối năm 1967 và ống dẫn xăng dầu được lắp thêm để việc chuyển vận nhanh chóng hơn.. Tại đây cũng có một cơ xưởng sửa chữa tại chỗ các chiến đỉnh nhỏ..
Cho đến tháng 11/1967 , qua Cửa Việt, Đông Hà nhận mỗi tháng đến 72, 500 tấn hàng quân sự ..tại Đông Hà , Công binh TQLC đã xây dựng hai bãi đổ hàng dành cho LCU, LCM và các xà lan (tất cả đều đến từ Cửa Việt).
Tại Cửa Việt có ít nhất 6-8 doanh trại của các đơn vị Mỹ khác nhau thuộc các hệ thống chỉ huy cũng khác nhau ! : Bộ binh, HQ, TQLC .. các đơn vị này hoạt động độc lập nhiều khi nhận lệnh ..cũng khác luôn..: Chiến đoàn Clearwater (HQ) trách nhiệm (giới hạn) dưới nước trong dòng sông, trên bờ là do TQLC Mỹ, Bộ binh Mỹ và Bộ binh VNCH ..Binh sĩ Clearwater không được đổ bộ đánh trả.. việc tấn công là phần của TQLC..Ngoài Cửa biển thì Duyên đoàn 11 lo phần mình.. Mỹ lo phần Mỹ (?)
Trong khi đó, theo Hải sử VNCH thì năm 1961.. VNCH đã có Đội 11 hải thuyền đặt căn cứ tại căn cứ Cửa Việt – Cửa Việt combat base – Cửa Việt base – Camp Kistler – NSA Cửa Việt và từng chặn bắt được ghe CS xâm nhập ngoài khơi cách bờ biển đến 1 km, bắt sống điệp viên BV mang sổ ghi chép hoạt động của VNCH nơi ven biển .. Đến 1962 các đội hải thuyền được cải danh thành các Duyên Đoàn (xem phần dưới)
Trong năm 1967 , CQ quấy phá khu vực bằng các cuộc pháo kích , súng đặt phía Bắc của Vùng DMZ, bắn vào Căn cứ của TQLC và vào thủy lộ Cửa Việt-Đông Hà. Riêng trong tháng 2-1967 Cửa Việt chịu đến 26 vụ pháo kích, chưa kể các vụ tấn công bằng súng nhỏ, súng không dzật, súng cối bắn vào chiến đỉnh di chuyển trên thủy lộ : 27 tàu bị trúng đạn, 7 thủy thủ tử nạn, 42 bị thương..
Phía Việt-Mỹ đã có những cuộc Hành quân tảo thanh CQ trong khu vực như Napoleon (4-1967) với những kết quả hạn chế do CQ tránh đụng độ.
Cửa Việt 1968-1972
(Các hoạt động của TQLC Mỹ được ghi theo ‘ Semper-Fi VietNam’ (From DaNang to the DMZ; Marine Corps Campaigns, 1965-1975) của Edward Murphy)
Từ đầu năm 1968, quân BV gia tăng các hoạt động quân sự tại Vùng cực Bắc VNCH trong khu vực từ Khe Sanh kéo ngang sang Cửa Việt. Trong khi mọi người (nhất là báo chí Mỹ) chú trọng đến Khe Sanh thì TQLC Mỹ không thể quên con đường tiếp vận quan yếu từ cảng Cửa Việt, theo dòng sông Cửa Việt, đến Đông Hà, và từ Đông Hà, theo Tỉnh lộ 9 dẫn đến các Căn cứ (cô lập) của TQLC Mỹ tại Cam Lộ, Camp Carroll, Rockpile và Cà Lu..SĐ3 TQLC Mỹ đã phải rải quân tương đối mỏng để phòng ngự..
Quân BV bắt đầu tấn công Khe Sanh từ ngày 20 tháng Giêng, và tìm cách ngăn cản hoạt động tiếp vận của Đồng Minh trên sông Cửa Việt.: pháo kích vào dòng sông từ bên bờ phía Bắc, len lỏi thả đủ loại mìn trên thủy lộ, bắn tỉa các chiến thuyền trên sông.
Ngày 19, TQLC (thuộc ĐĐ C/ 1 ) đã đụng độ với TĐ K-400 Chính quy BV xâm nhập cách bờ Bắc khoảng 5 km, phía HK gửi thủy xa lội nước đến tăng viện..Pháo CQ bắn 70 quả 130 ly từ phía Bắc Khu DMZ. Quân BV rút chạy trước hỏa lực không yểm, hải pháo… Trận đụng độ gây 3 quân Mỹ tử thương, 31 bị thương, phía CQ để lại 23 xác, 6 võ khí trong đó có 2 trung liên TC..
Ngày 20, CQ tấn công 2 chiến đỉnh trên sông, tấn công các hải thuyền của Duyên Đoàn 11 đang tuần tiễu bờ biển thuộc VNCH, bên phía Bắc Cửa Việt.. TĐ 1 Thủy-Bộ Chiến xa TQLC đã cùng một đơn vị thuộc Tr Đoàn 2/ SĐ1 BB VNCH phản ứng, chặn đánh quân BV tại khu vực Tây-Bắc Thôn Mỹ Lộc (bên bờ Bắc sông Cửa Việt).. CQ dùng pháo 130 , pháo trên 30 quả trong 30 phút để rút chạy..Một xe lội nước LVT trúng pháo..quân Mỹ thiệt 13 tử trận, 48 bị thương.. CQ bỏ lại 20 xác trong khu vực Mỹ trách nhiệm..Quân VNCH hạ thêm 20 CQ và bắt sống 2 tù binh.
Qua ngày 21, CQ tiếp tục các hoạt động quấy phá : quân chính quy CS trở lại khu vực đồi cát nơi chúng bị đẩy lui ngày 19. HK phản ứng bằng phi-pháo. Một LCM của HQHK trúng mìn nổ phía sau, khi tàu chạy qua, nhưng không chìm và được kéo về lại Cửa Việt.. Thủy lộ tạm đóng..trong ngày,
Ngày 22, một quan sát viên pháo binh tiền tiêu HQ Mỹ, hoạt động cùng một đơn vị BB VNCH thuộc Tr Đ 2/SĐ1, đóng tại Tiền trạm A1 (trong hệ thống phòng thủ McNamara), ghi nhận một TĐ CQ khoảng 500 quân di chuyển xuống phía Nam về phía vị trí của TQLC.. Đại đội C rời vị trí lui về sau và mưa pháo của Mỹ (đủ loại..từ 105, cối 8 inch, phi cơ và cả AC-130) thanh toán chiến trường..Quân VNCH vào thu dọn và thẩm định kết quả ghi nhận các mồ tập thể, trang bị bỏ lại, vết máu..ước tính CSBV thiệt hại nặng, hàng trăm CQ bị hạ..
Bộ Chỉ Huy TQLC Mỹ quyết định tổ chức cuộc Hành quân Badger Catch để đẩy lui CQ trong khu vực – Cửa Việt combat base – Cửa Việt base – Camp Kistler – NSA Cửa Việt về lại Vùng Bắc DMZ. Cuộc Hành quân này phối hợp cùng HQHK và lực lượng VNCH : TQLC Mỹ huy động thêm Lực lượng đặc biệt Đổ bộ (Special Landing Force=SLF) Bravo, cùng TĐ 3/1 TQLC..HQ HK lập Chiến đoàn (Task Force) Clearwater (xem dưới) hổ trợ cho cuộc hành quân gồm 20 chiến đỉnh PBR, cùng các chiến hạm phụ ..VNCH có Tr Đ 1 BB/ SĐ1BB và Duyên đoàn 11. Chiến dịch dự trù diệt hết CQ trong khu vực bờ Bắc sông Cửa Việt, lập khu vực an toàn 3-4 km bên bờ Bắc và 5-7 km từ cửa sông vào trong đất liền..
Chiến dịch bắt đầu ngày 24 và kéo dài đến 29 tháng Giêng, vớt kết quả ước lượng khoảng 1000 CQ bị loại và CQ rút về phía Bắc DMZ ..
Chiến sự trong khu vực Cửa Việt bị ‘chìm’ quên khi CQ bắt đẩu tấn công Khe Sanh.. và chuyển hướng quấy phá vùng Quảng Trị..
Tháng 7-1968, TQLC Mỹ và TrĐ 2 BB VNCH phối hợp hành quân “Chiến dịch Thor” trực thăng vận tảo thanh khu vực bên bờ Bắc sông Cửa Việt, phá hủy nhiều hầm chốt và thu nhiều tài liệu của CSBV.. Các hoạt động của CQ tập trung vào pháo kích, gây thiệt hại khá nhiều cho các kho nhiên liệu và đạn dược trên các kệ gỗ lộ thiên..(10 tháng 3, 150 tấn đạn; 11 tháng 4 , 40 ngàn gallon dầu nhớt ; 13 tháng 6, 104 ngàn gallons xăng-dầu…) . Việc pháo kích không gây quan ngại cho TQLC Mỹ .. vì một Trung tâm dưỡng sức đã được xây dựng tại Cửa Việt combat base – Cửa Việt base – Camp Kistler – NSA Cửa Việt để TQLC nghỉ ngơi sau những ngày hành quân tại khu DMZ ..
Năm 1969 : CQ chuyển sang dùng đặc công, người nhái gài mìn phá hoại các chiến đỉnh thả neo tại bến Cửa Việt (ngày 21 tháng 2-1969, 5 LCM-6 bị người nhái BV trang bị hệ thống lặn Nga gài chất nổ, gây thiệt hại và đặc công thủy này bị bắn hạ..)
16 tháng 11 , một PBR bị chìm do mìn ‘áp suất’
13 tháng 12-69, tàu kéo YOG 76 bị gài 2 khối chất nổ, chìm khi kéo phao..
7 tháng 2-1970 , một LCM-6 bị hư hại do loại mìn này..
Mìn thả và gài trên dòng Cửa Việt đủ dạng và đủ loại : từ những vật nội hóa tưởng như vô hại đến những loại tối tân do khối Cộng cung cấp : hộp ration C, thùng xăng rỗng, cây củi mục ..làm phao nổi kéo theo chất nổ chìm..từ lựu đạn miểng đến cả bom 750 lbs..Mìn chìm kiểu thủy lội móc dưới đáy bùn, mìn thả trôi.. rồi đủ loại mìn gắn nam châm, kèm hệ thống điều khiển.. Do gần khu DMZ nên Cử Việt là dòng sông nhiều mìn bẫy nhất VN.
Tháng 9-1969 , SĐ3 TQLC HK theo Kế hoạch Keystone Cardinal rút khỏi Cửa Việt.. SĐ4 TQLC HK đến thay thế cho đến 22 tháng 10 và đến lượt đơn vị này rút quân.. Khu vực trách nhiệm của TQLC HK ( kể cả Căn cứ Cửa Việt) được giao lại cho Lữ đoàn 1/SĐ5 BB HK và SĐ1 BB VNCH..
Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.