Trận Điện Biên Phủ – Battle of Dien Bien Phu 1954
Trận Điện Biên Phủ – Battle of Dien Bien Phu 1954 được coi là trận đánh quyết định cuối cùng và chấm dứt thời kỳ đô hộ của Pháp ở Việt Nam
Lược dịch từ tác phẩm “Hell in a very small place – Siege of Dien Bien Phu” của ký kỳ cựu Bernard B Fall năm 1966
Trong lịch sử hiện nay, có nhiều cuộc bao vây và kéo dài hơn ở căn cứ đồn trú của quân Pháp ở vùng Tây Bắc ở Việt Nam, nơi có địa danh là Điện Biên Phủ
Quân Pháp tái chiếm thung lũng này trong khoảng thời gian 209 ngày và cuộc bao vây thực sự kéo dài 56 ngày. Quân Đức cầm cự 76 ngày ở Stalingrad; Quân Mỹ cầm cự 66 ngày ở Bataan và 26 ngày ở Corregidor. Quân Anh và Khối Thịnh Vượng Chung cầm cự 241 ngày ở Tobrouk . Nhưng kỷ lục trong Đại chiến Thế giới lần thứ hai có lẽ thuộc về quân Đức đã giữ vững được pháo đài vùng duyên hải Lorient trong 270 ngày, từ năm 1944 đến ngày đế quốc Đức đầu hàng. Ở thời đại chúng ta, vô số những trận vây hãm được thực hiện bởi lực lượng đông đải của cả hai bên : 330.000 quân Đức bị vây ở Stalingrad khi bắt đầu cuộc vây hãm và quân Soviet bao vây tấn công họ thì gồm tới hơn một triệu người. Ở trận Điện Biên Phủ – Battle of Dien Bien Phu, lực lượng trấn giữ cứ điểm chưa bao giờ vượt quá con số 13.000 người còn bên lực lượng Việt Minh thì có 49.500 chiến binh và 55.000 binh sĩ phụ trợ. Nếu so ra với các cuộc chiến trên thì không thể nói đó là trận đánh chính chứ đừng nói đó là cuộc chiến quyết định
Tuy nhiên, đó đúng là một trong những trận quyết định thực sự trong thế kỷ 21 giống như trận Marne đầu tiên, trận Stalingrad, và trận Midway. Đây là những trận đánh được đánh giá là mang tính quyết định vào thời điểm đó.
Trước khi người Pháp sau thất bại ở trận Điện Biên Phủ 1954 – Battle of Dien Bien Phu 1954, người Pháp đã chứng kiến cuộc chiến Đông Dương của Pháp bắt đầu ngày 19 tháng 12 năm 1946 và kéo dài nhiều năm sau đó. Họ đã thỏa thuận và chấp nhận một chế độ không Công Sản bằng giải pháp hoàng đế Bảo Đại. Nhưng khi cuộc chiến ngày càng lún sâu và khiến Pháp tiêu tốn 1 lượng chi phí khổng lồ thì Pháp đã không còn mục tiêu chiến tranh nào cụ thể (Pháp tốn 10 tủ Usd và 954 triệu Usd do Mỹ hỗ trợ cho đến tháng 7 năm 1954)
Tướng Henri-Eugene Navarre – Tổng Chỉ Huy quân đội Pháp ở Đông Dương vào thời đó mà sau này đã viết trong quyển sách “Đông Dương hấp hối” – “Agonie de l’Indochine” rằng : Pháp có 2 mục tiêu nhưng mâu thuẫn nhau :
-Một là Pháp sẽ gánh mọi cuộc chiến nếu các quốc gia đồng minh ở Đông Dương chấp nhận “mối quan hệ đặc biệt” với Pháp, các quốc gia này cũng sẵn lòng chia sẽ chi phí và máu với nước Pháp và họ chiến đấu bằng mọi khả năng của hai.
-Hai là cuộc chiến Đông Dương chỉ là một phần trong cuộc chiến cả thế giới đó là ngăn chặn chủ nghĩa Cộng Sản lan rộng. Cuộc chiến này do Mỹ dẫn đầu khác và do đó các quốc gia quan tâm đến cuộc chiến này cũng nên đóng góp vào ít nhất cũng bằng với phần mà Pháp đã bỏ ra.
Quan điểm này sau đó được tái xác định khi vào tháng 12 năm 1965, Ngoại trưởng Dean Rusk và bộ trưởng quốc phòng Mac Namara đã đến Paris để yêu cầu các thành viên khác của khối Bắc Đại Tây Dương ủng hộ Hoa Kỳ một cách trực tiếp hơn và đầy đủ hơn trong cuộc đấu tranh mà họ tiến hành hầu như một mình . Tuy nhiên chỉ có miền Nam Việt Nam và 1 số quốc gia đóng góp. Do đó, kết quả đạt được xem ra là không đáng kể.
Khác với Mỹ, lúc đó nước Pháp đã khá kiệt kệ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Dân Pháp lúc đó cũng yêu cầu một giải pháp chính trị nhanh chóng
Một điểm khác nữa là nếu Tổng Chỉ Huy Quân Đội Mỹ có thể điều lính Mỹ với quân số không hạn chế để tác chiến ở nước ngoài thì Luật Ngân Sách 1950 của Pháp lại cấm chính phủ đem binh lính thuộc biên chế trong nước sử dụng ở ngoài lãnh thổ chính quốc – nước Pháp và Algérie – và những vùng chiếm đóng tại Đức. Điều này khiến quân Pháp ko thể triển khai đầy đủ lực lượng cần thiết trong cuộc chiến Đông Dương . Điều này dẫn đến những đơn vị của Pháp đóng ở Châu Âu lại thiếu những sĩ quan kinh nghiệm còn những đơn vị Pháp được gửi đến Đông Dương thì lại là những đơn vị được xây dựng và bổ sung lính một cách vội vã
Tháng Năm năm 1953, khi nhận nhiệm vụ chỉ huy, tướng Navarre đã yêu cầu gửi cho ông 12 tiểu đoàn bộ binh, một số đơn vị hỗ trợ, một tiểu đoàn công binh, 750 quan và 2550 hạ sĩ quan để tăng cường cho một số đơn vị đang thiếu sĩ quan. Rốt cuộc ông chỉ nhận 1 được 8 tiểu đoàn, 330 sĩ quan, 200 hạ sĩ quan và được báo rằng đó là “tăng viện” nhưng thực chất thì đó là một sự “tạm ứng trước”, nghĩa là lực lượng này được trích ra từ kế hoạch dự kiến sẽ được đưa sang Đông Dương nhằm bù đắp cho những thiệt hại của năm 1953
Trong khi đó, đối phương ngày càng lớn mạnh với những sư đoàn chính quy, được huấn luyện tốt và có thể chống lại mọi thứ mà Pháp sử dụng để chống lại họ. Mười hai năm sau đó, quân Bắc Việt cũng không sợ hãi trước quân đội Mỹ
Khi cuộc chiến Triều Tiên chấm dứt vào tháng 7 năm 1953, cố vấn Trung Quốc, cố vấn Liên Xô cùng vũ khí của Trung Quốc và Liên Xô bắt đầu đổ dồn vào Bắc Việt. Họ đã có 7 sư đoàn bộ binh và 1 sư đoàn pháo binh. Lực lượng này ngày càng lớn mạnh thêm với những đơn vị mới đang được huấn luyện từ các căn cứ huấn luyện đặt tại gần biên giới Việt Nam – Trung quốc. Nhiệm vụ đặt ra cho quân đội Pháp là phải nhanh chóng tiêu diệt lượng lớn quân đội Bắc Việt càng sớm càng tốt và càng nhanh càng tốt. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này cần có một trận đánh lớn. Trong trận này, Pháp cần dụ Việt Nam sa vào bẫy. Pháp cần đưa ra mồi hấp dẫn để lôi cuốn quân Việt Nam đem quân đến gần nhưng Pháp cũng cần đủ mạnh để có thể kháng cự sức tấn công của Việt Minh. Đây là ván bài mạo hiểm nhưng sự thành công của nó gắn liền với vấn đề chính trị của Pháp ở Đông Dương, với vận mệnh về một nước Việt Nam không chế độ Cộng Sản. Nó còn kéo theo Lào và Campuchia theo học thuyết Domino mà theo đó nếu sụp đổ, sẽ còn ảnh hưởng đến vận mệnh ở các quốc gia Đông Nam Á như Malaysia, Singapore, …
Kết thúc phần 1 : Trận Điện Biên Phủ – Battle of Dien Bien Phu 1954
Xem tiếp : Trận Điện Biên Phủ – Battle of Dien Bien Phu 1954 – P2
Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.